SKKN Một số kinh nghiệm dạy tốt môn Đạo đức ở lớp 1

Đất nước ta đang trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Công cuộc đổi mới kinh tế xã hội đang diễn ra từng ngày, từng giờ trên khắp đất nước. Nó đòi hỏi phải có những lớp người lao động mới, có bản lĩnh, có năng lực, chủ động sáng tạo. Dám nghĩ, dám làm thích ứng được với thực tiễn xã hội luôn thay đổi và phát triển. Nhu cầu này đòi hỏi phải có ngành giáo dục phải có sự thay đổi cho phù hợp với tình hình đất nước. Và thực sự ngành giáo dục đã từng bước thay đổi, thể hiện qua sự xác định mục đích giáo dục đào tạo, hay nói đúng hơn là phát triển toàn diện về nhân cách con người thể hiện qua hai mặt là: “Tài và Đức”. Muốn làm được điều này, ngành giáo dục phải tạo điều kiện để học sinh phát huy năng lực về văn hóa cũng như về phẩm chất đạo đức ngay từ khi ngồi trên ghế nhà trường. Từ đó tạo mặt bằng dân trí cao hơn nhằm hình thành những con người mới phát triểnt toàn diện đủ cả về “Tài và Đức”.

Trong giáo dục đào tạo con người mới con người phát triển toàn diện, chúng ta không chỉ dạy cho các em giỏi về văn hóa mà còn phải làm tốt công tác giáo dục hành vi, phẩm chất đạo đức cho các em ở lứa tuổi tiểu học. Đặc biệt là giáo dục các em học sinh trong giai đoạn đầu cấp (học sinh lớp 1). Người xưa đã dạy: “Dạy con từ thưở còn thơ”. Qua nhiều năm giảng dạy ở trường Tiểu học, tôi nhận thấy việc giáo dục hành vi, phẩm chất đạo đức cho các em là vô cùng cần thiết. Thông qua môn học Đạo đức các em có những hiểu biết ban đầu về một số những chuẩn mực hành vi đạo đức và pháp luật phù hợp với lứa tuổi tiểu học nói chung và học sinh lớp 1 nói riêng trong các mối quan hệ của các em với bản thân và những người thân trong gia đình; với thầy giáo, cô giáo và với nội quy của lớp, của trường; với môi trường xung quanh…

docx 16 trang Diệu Anh 16/03/2025 380
Bạn đang xem tài liệu "SKKN Một số kinh nghiệm dạy tốt môn Đạo đức ở lớp 1", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: SKKN Một số kinh nghiệm dạy tốt môn Đạo đức ở lớp 1

SKKN Một số kinh nghiệm dạy tốt môn Đạo đức ở lớp 1
 những học sinh còn nhút nhát chưa mạnh dạn cùng tham gia.
	+ Các nhóm thảo luận chuẩn bị đóng vai.
	+ Các nhóm lên thực hiện vai diễn.
	+ Cả lớp thảo luận nhận xét sau khi đóng vai. Đây là bước quan trọng, có ý nghĩa thiết thực trong việc sử dụng phương pháp đóng vai:
	* Yêu cầu các em học sinh tham gia đóng vai nêu cảm xúc khi thể hiện vai “diễn” của mình trước lớp:
Cách ứng xử của các vai diễn phù hợp hay chưa? Chưa phù hợp ở chỗ nào?
Cảm xúc của các em khi thực hiện cách ứng xử? Và khi nhận được cách ứng xử ( Đúng hoặc Sai)?
* Yêu cầu các học sinh khác nhận xét cách ứng xử và sự nhập vai của các vai “diễn”. Ở bước này giáo viên tạo điều kiện để học sinh đưa ra nhiều cách ứng xử khác nhau:
Thực tế nếu là các em trong trường hợp đó em thể hiện cách ứng xử như thế nào?
+ Giáo viên chốt lại định hướng cho học sinh về cách ứng xử tích cực, cần thiết trong tình huống.
	- Một số lưu ý khi áp dụng phương pháp đóng vai:
	+ Đối với học sinh lớp 1, tình huống đóng vai phải phù hợp với chủ đề giáo dục của bài, vừa sức đối với các em.
	+ Chỉ tổ chức đóng vai khi cần thiết, có tác dụng giáo dục thiết thực trong đời sống hàng ngày của các em.
	+ Khi tổ chức đóng vai nên hóa trang, đạo cụ đơn giản sẵn có nhằm tăng tính hấp dẫn, tạo điều kiện cho học sinh nhập vai dễ dàng.
Ví dụ:
	Bài 9: 	LỄ PHÉP VÂNG LỜI THẦY CÔ GIÁO
	- Giáo viên chia nhóm và yêu cầu mỗi nhóm học sinh đóng vai theo một tình huống của một bài tập 1.
	Em hãy cùng các bạn trong nhóm đóng vai các tình huống sau:
	+ Tình huống 1: Em gặp thầy giáo, cô giáo trong trường.
	+ Tình huống 2: Em đưa sách vở cho thầy giáo cô giáo.
	- Các nhóm chuẩn bị đóng vai trước lớp.
	- Sau mỗi tình huống các nhóm lên đóng vai, cả lớp thảo luận, nhận xét:
	* Cho các học sinh tham gia đóng vai nêu cảm xúc của mình khi thể hiện vai diễn:
	Tình huống 1:
Em có cảm nghĩ gì khi chào hỏi thầy cô?
Trong thực tế em đã làm những việc này chưa?
Em thấy như thế nào khi được thầy giáo, cô giáo khen em là học sinh lễ phép?
Tình huống 2:
Việc làm của em trong tình huống này là đúng hay sai?
Em nên khuyên các bạn mình điều gì qua tình huống em vừa diễn?
* Yêu cầu các học sinh khác nhận xét các nhập vai ứng xử của bạn trong nhóm, em thấy:
+ Các nhóm đóng vai cả hai tình huống đã thể hiện được sự lễ phép và vâng lời thầy giáo, cô giáo chưa?
+ Các em cần làm gì khi gặp thầy giáo, cô giáo?
+ Cần làm gì khi đưa hoặc nhận sách vở từ tay thầy giáo cô giáo?
Giáo viên kết luận:
	+ Khi gặp thầy giáo, cô giáo cần chào hỏi lễ phép.
	+ Khi đưa hoặc nhận vật gì từ thầy giáo cô giáo cần đưa bằng hai tay.
	Qua bài học giúp các em hình thành được kỹ năng sống trong hành vi đạo đức của mình đó là kĩ năng giao tiếp, cách ứng xử lễ phép với thầy cô giáo. Có thể mở rộng hơn trong phạm vi nhà trường các em ứng dụng vào trong đời sống hàng ngày. Khi gặp người lớn tuổi, người quen với ba mẹ cũng cần phải chào hỏi lễ phép. Đưa hoặc nhận vật gì từ người lớn cũng cần đưa hai tay Như thế là các em đã thực hiện tốt chuẩn mực hành vi đạo đức thông qua bài học bằng phương pháp đóng vai.
	c. Phương pháp trò chơi:
	- Trò chơi là phương pháp giúp học sinh phát hiện và chiếm lĩnh những nội dung học tập thông qua việc chơi trò chơi.
	- Trò chơi học tập nói chung và trò chơi trong dạy – học môn Đạo đức nói riêng có tác dụng giúp học sinh biết vận dụng kiến thức đã học phát triển tư duy, tạo thói quen tập trung, tính độc lập, ham hiểu biết và khả năng suy luận. Khi chơi các em thay đổi đội hình, các em được khởi động tự do thoải mái trong giới hạn cho phép; chống mệt mỏi, tăng cường khả năng thực hành, Được thử nghiệm, tưởng tượng, suy ngẫm, lập luận để trò chơi đạt kết quả nhanh nhất và chính xác nhất mà không nghĩ là mình đang học. Vì cùng với học, chơi là nhu cầu không thể thiếu được của học sinh tiểu học. Dù không phải là hoạt động chủ đạo, song vui chơi vẫn giữ một vai trò rất quan trọng trong hoạt động sống của các em. Qua trò chơi trẻ không những phát triển về mặt trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ mà còn được hình thành nhiều phẩm chất và hành vi đạo đức.
	- Lý luận thực tiễn đã chứng tỏ rằng: Nếu biết tổ chức cho trẻ vui chơi một cách hợp lý, đúng đắn thì đều mang lại hiệu quả giáo dục toàn diện.
	+ Qua trò chơi, học sinh được luyện tập những kĩ năng, những thao tác hành vi đạo đức, được thể hiện hành vi một cách đúng đắn, tự nhiên, rèn khả năng biết lựa chọn cho mình cách ứng xử phù hợp trong tình huống. Các em được hình thành năng lực quan sát, được rèn luyện kĩ năng nhận xét, biết đanh giá hành vi của người khác là phù hợp hay không phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội.
	+ Qua trò chơi, học sinh có cơ hội thể nghiệm những chuẩn mực hành vi. Nhờ vậy sẽ hình thành được ở các em niềm tin về những chuẩn mực hành vi đã học, tạo động cơ bên trong cho hành vi ứng xử trong cuộc sống thực tế.
	+ Qua trò chơi tạo cơ hội để học sinh tham gia vào các mối quan hệ giao tiếp làm tăng cường khả năng giao tiếp giữa học sinh với học sinh và giữa học sinh với giáo viên một cách tự nhiên và dễ dàng.
	- Dạy – học môn Đạo đức quan trọng chủ yếu là giáo dục tư tưởng, ý thức, hành vi phẩm chất đạo đức cho học sinh. Thực tế trong giảng dạy trò chơi là phương pháp dạy học được sử dụng nhiều và rất đa dạng. Dù với hình thức hay phương pháp nào thì đích cuối cùng cũng là giúp học sinh lĩnh hội kiến thức và cũng cố khắc sâu các tri thức đã học biến nó thành những chuẩn hành vi đạo đức cho riêng mình.
	- Trò chơi có những quy định luật lệ nhất định. “Trò chơi học tập” mang tính thi đua và đòi hỏi sự tự giác rất cao của học sinh, có như thế mới đem lại kết quả cao trong học tập. Nó giáo dục cho các em tính thật thà, biết đánh giá chính xác kết quả học tập của mình và bạn. Khi chơi các em thể hiện được tính trung thực của cá nhân.
	- Một số yêu cầu cần đảm bảo khi áp dụng phương pháp trò chơi:
	+ Ở học sinh lớp 1 cần tổ chức những trò chơi nhỏ, đơn giản, phù hợp với tình hình lớp học, gây hứng thú cho học sinh. Trò chơi phải dễ tổ chức và dễ thực hiện, phải phù hợp với chủ đề Đạo đức và đảm bảo tính giáo dục, nhằm mục đích củng cố hoặc khắc sâu nội dung bài học. Phù hợp với đặc điểm và trình độ học sinh, với thời gian, hoàn cảnh điều kiện thực tế của lớp.
	+ Trò chơi chuẩn bị chu đáo, hình thức tổ chức phải đa dạng phong phú. Thay đổi nội dung trò chơi để học sinh không bị nhàm chán.
	+ Cần quy định rõ thời gian chơi (không quá 5 phút).
	+ Luật chơi phải giới thiệu rõ ràng: nội dung trò chơi, cách tổ chức, cách tính điểm. (Nếu cần giáo viên có thể vừa hướng dẫn, vừa thực hiện mẫu).
	+ Trò chơi phải đảm bảo huy động nhiều học sinh tham gia, mang tính tập thể. Học sinh phải nắm được quy tắc chơi và tôn trọng luật chơi.
	+ Khi tổ chức trò chơi thi đua tránh để học sinh đặt nặng vấn đề hơn thua trong khi chơi.
	+ Tạo điều kiện để học sinh tham gia, tổ chức, điều khiển toàn bộ các khâu của trò chơi (Chuẩn bị, tiến hành, đánh giá sau trò chơi).
	+ Địa điểm chơi phải đảm bảo an toàn cho học sinh trong khi tham gia trò chơi.
	+ Có thể đưa ra các tiêu chí cho nhóm thắng trong trò chơi, nhằm động viên khuyến khích các em khi tham gia chơi. Mặt khác cũng cần khích lệ động viên những nhóm chưa hoàn thành nhiệm vụ tránh cho các em sự lúng túng, mất tự tin khi chơi.
Ví dụ:
	Bài 5: 	LỄ PHÉP NHƯỜNG NHỊN EM NHỎ (Tiết 2)
Bài tập 3: Hãy nối mỗi tranh dưới đây với NÊN hoặc KHÔNG NÊN cho phù hợp: Với bài tập này tôi áp dụng cho học sinh phương pháp trò chơi “Tiếp xúc”
Giáo viên treo tranh cho học sinh quan sát.
- Phổ biến luật chơi:
	+ Chia làm 3 nhóm, 2 nhóm cử đại diện 5 em xếp thành 2 hàng dọc. Nhóm còn lại làm cổ động viên và ban giám khảo.
	+ Khi nghe hiệu lệnh bắt đầu, 2 em đầu 2 nhóm lên nối hình vẽ với việc làm tương ứng, sau đó chuyền bút cho bạn thứ 2 cứ như thế cho đến bạn cuối cùng. Mỗi học sinh chỉ được phép nối 1 hình tương ứng. Nhóm nào thực hiện nhanh và chính xác nhóm đó thắng cuộc.
	+ Nhóm thứ 3 nhận xét kết quả của 2 nhóm vừa thi đua với nhau.
	+ Qua trò chơi giáo viên cho học sinh giải thích vì sao các em chọn việc làm nào nên và việc làm nào không nên.
	+ Giáo viên kết luận:
* Việc nên làm: tranh 2, 3, 5
* Việc không nên làm: tranh 1,4
+ Qua trò chơi theo nội dung bài tập trên, giáo viên có thể cho học sinh tự liên hệ kể các tấm gương về lễ phép và nhường nhịn em nhỏ trước lớp.
- Trò chơi “Tiếp sức” có thể áp dụng với nhiều bài tùy theo sự linh động của giáo viên theo kiến thức của mỗi bài. Đây là trò chơi mang tính thi đua.
- Ngoài ra còn dạng trò chơi không mang hình thức thi đua mà qua trò chơi học sinh thể hiện được hành vi, chuẩn mực một cách đúng đắn để vận dụng vào thực tế cuộc sống.
Ví dụ:
	Bài 1: 	EM LÀ HỌC SINH LỚP 1
	Bài tập 1: Trò chơi: “Giới thiệu tên”
	- Giáo viên cho 5 học sinh lên chơi giới thiệu về tên của mình với các bạn. Các em cùng hô 1, 2, 3 ai ra thì được giới thiệu tên mình với các bạn trước. Sau khi tự giới thiệu xong học sinh được tự chỉ định một bạn khác tiếp tục tự giới thiệu tên mình và tên bạn vừa chọn mình. Cứ như thế lần lượt cho đến khi tất cả các em đều được giới thiệu tên.
	Ví dụ: HS thứ 1 – Xin chào các bạn! Mình tên là Khương, rất vui khi được làm quen với các bạn. Mời bạn đứng đối diện của mình tiếp tục giới thiệu.
	HS thứ 2 – Chào các bạn! Mình tên là Bảo Tiên và đây là bạn Khương, chúng mình rất vui khi làm quen với các bạn. Trò chơi tiếp tục đến HS thứ 5.
- Giáo viên có thể tổ chức cho các em chơi theo nhóm cùng một lúc.
Qua trò chơi giúp học sinh biết tự giới thiệu tên của mình, nhớ tên các bạn trong lớp và biết được trẻ em có quyền có họ tên.
	- Giáo viên cho các em thảo luận sau khi thực hiện xong trò chơi:
	+ Trò chơi giúp em biết được điều gì?
+ Em có thấy sung sướng, tự hào khi tự giới thiệu tên với các bạn, khi nghe các bạn giới thiệu tên mình hay không?
+ Em hãy kể tên của một vài bạn trong nhóm mà em vừa biết?
- Kĩ năng sống cơ bản được giáo dục qua trò chơi:
+ Kĩ năng tự giới thiệu về bản thân.
+ Kĩ năng thể hiện được sự tự tin trước đông người.
+ Kĩ năng lắng nghe tích cực.
	Bài 3: 	GIỮ GÌN SÁCH VỞ ĐỒ DÙNG HỌC TẬP
	Hình ảnh
d. Phương pháp thảo luận nhóm:
	- Thảo luận nhóm là phương pháp nhằm giúp học sinh tham gia một cách chủ động, tích cực vào quá trình học tập tạo điều kiện cho các em có thể chia sẻ kinh nghiệm ý kiến hay để giải quyết một vấn đề nào đó.
	- Khi sử dụng phương pháp này giáo viên hướng dẫn các em cách làm nhóm trưởng, cách tổ chức hoạt động của nhóm, cách phản hồi kết quả các hoạt động của nhóm. Thảo luận nhóm được sử dụng khi cần khuyến khích sự tham gia suy nghĩ và phát biểu tích cực của mọi thành viên.
Ví dụ:
	Bài 10:	EM VÀ CÁC BẠN
	- Giáo viên cho học sinh quan sát tranh, tổ chức chia nhóm cho học sinh thảo luận nhóm với nội dung các câu hỏi:
	+ Các bạn nhỏ trong mỗi tranh đang làm gì?
	+ Chơi một mình vui hơn hay có bạn cùng chơi cùng học vui hơn?
	+ Muốn có nhiều bạn học, cùng chơi em cần phải đối xử với bạn như thế nào khi học, khi chơi?
	- Giáo viên chia lớp thành nhóm từ 2 – 4 học sinh. Với nhóm 4, giáo viên có thể chia nhóm theo biểu tượng. Chẳng hạn biểu tượng các loài hoa: hoa mai, hoa hồng, hoa đào hay các con vật quen thuộc, yêu thích: Thỏ ngọc, Sóc nâu, Nai, Gấu, trên cơ sở hình thành các nhóm và xác định cụ thể vị trí của các nhóm trong lớp. Mỗi nhóm tự cử một nhóm trưởng, sau đó mời các em nhóm trưởng lên để hướng dẫn các em cách điều hành nhóm hoạt động, giáo viên có thể chỉ dẫn, nhóm trưởng yêu cầu từng học sinh trong nhóm nêu ý kiến theo nội dung bài học.
	- Khi các nhóm đang thảo luận, giáo viên cần quan sát, phát hiện các nhóm khó khăn để hỗ trợ. Trong mỗi nhóm, cần xác định các em còn nhút nhảt, chưa mạnh dạn để có biện pháp giúp đỡ kịp thời
	- Phản hồi nhóm đây là bước quan trọng trong thảo luận nhóm. Có nhiều hình thức phản hồi nhóm: phản hồi bằng lời, phản hồi bằng tranh, phản hồi thông qua đóng tiểu phẩm Điều quan trọng là thông qua phản hồi, rèn cho học sinh khả năng biết trình bày một vấn đề, rèn tính tự tin, bình tĩnh khi nói trước đông người trên cơ sở đó hình thành cho các em một số kĩ năng sống cần thiết. Như ở ví dụ trên qua sử dụng phương pháp thảo luận rèn được cho học sinh kĩ năng: Thể hiện sự tự tin, tự trọng trong quan hệ bạn bè, rèn được kĩ năng giao tiếp, ứng xử với bạn bè, thể hiện sự cảm thông với bạn bè.
	- Khi tổ chức áp dụng phương pháp trong môn Đạo đức lớp 1 cần chú ý:
	+ Hoạt động thảo luận nhóm có thể được dự kiến từ khâu giới thiệu giáo án, cũng có thể tổ chức bất kì khi có tình huống vấn đề cần thảo luận chia sẻ.
	+ Chỉ tổ chức thảo luận khi cần thiết, cần sự chia sẻ về một vấn đề đạo đức nào đó mà nếu không tổ chức thảo luận nhóm thì sẽ không đạt được hiệu quả mong muốn.
	+ Đối với học sinh lớp 1, mỗi nhóm không nên quá 4 em, thời gian hoạt động không quá 5 phút để học sinh dễ tổ chức hoạt động và phù hợp với sức khỏe của học sinh Tiểu học.
	+ Cần cho các em luân phiên làm nhóm trưởng, để em nào cũng được rèn khả năng chỉ huy, tổ chức hoạt động tập thể. Việc trình bày kết quả có thể là nhóm trưởng, cũng có thể lựa chọn các em khác trình bày.
	+ Cần kiên trì tổ chức cho các em tham gia hoạt động nhóm. Ban đầu có thể gặp nhiều khó khăn trong khâu tổ chức, sau một vài lần các em sẽ quen và từng bước hình thành được thói quen học tập theo nhóm và yêu thích hoạt động nhóm.
Trên đây là một số ví dụ đưa các phương pháp hình thức dạy – học vào môn Đạo đức mà tôi đã áp dụng. Nhờ đó tiết học trở nên hứng thú và đạt hiệu quả cao. Ngoài các phương pháp nêu trên giáo viên cần luôn động viên, khuyến khích, tuyên dương những học sinh thực hiện tốt nhiệm vụ học tập của mình.
III. KẾT QUẢ VÀ HIỆU QUẢ PHỔ BIẾN ỨNG DỤNG NỘI DUNG VÀO THỰC TIỄN:
1/ Kết quả:
	Trong quá trình giảng dạy tôi đã áp dụng “Một số kinh nghiệm để dạy tốt môn đạo đức lớp 1” Tôi nhận thấy đã đạt được một số kết quả cụ thể: Cuối học kì I lớp tôi đạt:
	Hoàn thành tốt đạt 85%
	Hoàn thành đạt 25%. Không có học sinh xếp loại chưa hoàn thành.
2/ Kinh nghiệm:
	- Nhờ vận dụng các phương pháp giảng dạy như trên tôi đã gây hứng thú cho học sinh trong các giờ học môn Đạo đức thu hút học sinh vào hoạt động học tập đạt 100% học sinh tham gia tích cực. Các em đã nắm bắt được những tri thức sơ đẳng về các chuẩn mực đạo đức.
	- Học sinh biết được cái thiện, cái ác, cái đúng, cái sai Có những xúc cảm đạo đức tích cực. Có những kĩ năng hành vi đơn giản.
3/ Kết luận:
	- Qua những phần trình bày ở trên, có thể thấy rằng giờ lên lớp môn Đạo đức ở bậc Tiểu học – học sinh lớp 1 có tầm quan trọng đặc biệt trong việc làm cho học sinh hiểu biết các chuẩn mực đạo đức qua các mẫu hành vi đạo đức để từ đó các em ứng xử đúng đắn với gia đình, xã hội, cộng đồng. Vì vậy công tác giáo dục đạo đức cho học sinh là cái căn bản, cái gốc cho sự phát triển nhân cách.
	- Trên đây là những kinh nghiệm tôi đã áp dụng giảng dạy môn Đao đức. Tôi rất mong nhận sự góp ý, bổ sung của bạn bè, đồng nghiệp, Hội đồng Sáng kiến để bài viết của tôi được hoàn chỉnh hơn.
Bảo An, ngày 14 tháng 3 năm 2014
Người viết
Nguyễn Thị Kim Liên.
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN
TRƯỜNG TIỂU HỌC BẢO AN 2
CHỦ TỊCH
Đào Thị Phương Nga

File đính kèm:

  • docxskkn_mot_so_kinh_nghiem_day_tot_mon_dao_duc_o_lop_1.docx